Bảo vệ nghiêm ngặt rừng tự nhiên vì mục tiêu phát triển bền vững

Thứ Hai, 28/09/2026 04:37
Không chỉ là lá chắn sinh thái trước ô nhiễm và thiên tai, những cánh rừng Việt Nam đang khẳng định rõ vai trò của một nguồn tài nguyên phát triển bền vững. Việc thương mại hóa giá trị môi trường cùng nguồn vốn tín chỉ carbon đã biến các cánh rừng thành kho tài nguyên xanh, vừa tạo dòng tiền cho địa phương, vừa đảm bảo sinh kế bền vững cho người giữ rừng.
Bảo vệ và phát triển rừng bền vững góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.

Chủ động trách nhiệm "gác rừng"

Tại các khu vực trọng điểm lâm nghiệp, tư duy quản lý rừng không còn dừng ở những đợt ra quân sự vụ hay tuần tra thủ công phân tán. Sự phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm, chính quyền cơ sở và các chủ rừng đang hoàn thiện theo hướng đồng bộ, thường xuyên. Tại khu vực Đơn Dương (Lâm Đồng), việc siết chặt quy định kết hợp ứng dụng bản đồ vệ tinh quan trắc cháy rừng đã giúp địa phương kiểm soát chặt chẽ các diện tích giáp ranh, giảm xâm hại lâm sản. Tại khu vực Tằng Loóng (Lào Cai), chủ rừng chủ động phân vùng rủi ro, củng cố các tổ tự quản liên thôn và đưa chỉ tiêu bảo vệ rừng vào quy ước phát triển kinh tế địa phương.

Song song với quản lý là công tác gieo trồng và phục hồi hệ sinh thái. Không dừng ở diện tích trồng mới, chất lượng rừng chuyển biến rõ nét nhờ chiến lược chuyển đổi sang cây gỗ lớn và làm giàu rừng tự nhiên. Tại Vĩnh Long, đến tháng 8/2026, tỉnh đã khoán bảo vệ 5,25 nghìn ha rừng và đặt mục tiêu giai đoạn 2026–2030 trồng mới 100 ha. Địa phương cũng định hướng kết hợp bảo vệ rừng ngập mặn với nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng, du lịch sinh thái và các hoạt động tạo thu nhập cho cộng đồng.

Các tỉnh Duyên hải miền Trung đẩy mạnh giao đất, giao rừng gắn liền với trách nhiệm vận hành. Tỷ lệ che phủ không còn là con số chạy theo thành tích mà trở thành chỉ số đo lường hiệu quả quản trị của từng chủ rừng. Khi ranh giới pháp lý được xác lập rõ ràng và công cụ giám sát đủ mạnh, chủ rừng mới thực sự coi cánh rừng là tài sản kinh doanh cần bảo vệ thay vì một gánh nặng hành chính.

Nâng cao giá trị kinh tế lâm nghiệp

Điểm tựa lớn nhất giúp người dân gắn bó với rừng chính là bài toán sinh kế. Năm 2026 đánh dấu bước tiến trong cơ chế tài chính lâm nghiệp khi Việt Nam thực hiện hiệu quả các thỏa thuận chi trả dịch vụ hấp thu và lưu giữ carbon (ERPA). Đáng chú ý, Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) đã phê duyệt khoản chi trả 71,955 triệu USD cho dự án REDD+ tại 6 tỉnh Phú Thọ, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai và Tuyên Quang. Nguồn vốn này được phân bổ về tận tay các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng, vừa bù đắp công sức lao động vừa tạo niềm tin vào mô hình kinh tế xanh.

Dòng tiền từ các quỹ tài trợ quốc tế và dịch vụ môi trường rừng đang đóng vai trò đòn bẩy kép. Một mặt, ngân sách cung cấp kinh phí mua sắm thiết bị tuần tra, hỗ trợ cây giống chất lượng cao; mặt khác, đây là cơ chế phân phối lại lợi ích kinh tế giữa khu vực tiêu dùng carbon và khu vực tạo tín chỉ. Khi giá trị sinh thái được lượng hóa thành con số trên sổ sách, các dự án lâm nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn tín dụng ưu đãi. Lâm nghiệp Việt Nam đang dần thoát khỏi cái bẫy "nghèo dưới tán rừng", xây dựng chuỗi giá trị khép kín từ trồng, bảo vệ đến khai thác các sản phẩm phi gỗ và dịch vụ sinh thái bền vững.

Kim Trang

Theo Tạp chí Doanh nghiệp và Thương hiệu nông thôn

Tin khác